Khi
Đồng Minh Tháo Chạy - Nguyễn Tiến Hưng
Lời nói đầu
Sao lẹ thế
Ngày 10 tháng ba, 1975
Quân đội Bắc Việt đánh chiếm Ban Mê Thuộc.
Đến ngày 30-4 đă tiến vào Sài gon. Tốc độ
như vũ băo, vỏn vẹn chỉ có 52 ngày? Không lẽ
một cuộc chiến kéo dài tới hai mươi năm,
đến khi kết thúc lại nhanh như vậy?
Rồi cuộc di tản
tiếp theo. Trước hết lạ thời gian di tản,
sao nó quá ngắn ngủi? Tuy hai cuộc chiến năm 1954
và 1975 kết thúc trong những hoàn cảnh khác hẳn nhau,
ta vẫn có thể hỏi tại sao khi Pháp rút khỏi Miền
Bắc, thời gian được quy định là 300 ngày.
Bây giờ đến lúc Mỹ rút hết khỏi Miền
Nam th́ không có quy định ǵ hết, cuộc di tản chỉ
kéo dài được vỏn vẹn năm ngày!
Nói tới cung cách
ra đi, sao lại quá thê thảm? Năm 1954, dù chỉ là di
tản từ Bắc vào Nam và năm 1975 th́ di tản sang Mỹ
nên hai biến cố khác nhau, nhưng phần nào ta cũng
so sánh được việc đoàn người ra đi
có trật tự, rất ít nguy hiểm ở lần đầu,
với cuộc di tản nháo nhào, đầy rủi ro, hăi
hùng vào lần thứ hai. Rốt cuộc, tại sao số
người được cứu vớt lại quá ít ỏi?
Hồi 1954, Mỹ chưa trực tiếp dính líu vào Việt
nam mà đă giúp chuyên chở, rồi định cư cho một
triệu người, tức là 7% dân số Miền Bắc.
Sau hai mươi năm can thiệp với hơn một nửa
triệu quân, sống chết với 20 triệu dân quân Miền
Nam, giờ đây lại chỉ định cứu có 50.000
người. Tới phút cuối cùng mới vớt thêm. Tất
cả không tới 130.000 người, nghĩa là có 0,6% dân số.
Phóng viên: "Thưa
ông, cứ cho là Hoa kỳ đă bội ước, nhưng
c̣n lư do ǵ khác khiến chúng tôi phải đưa người
Việt vào Mỹ không?"
Tác giả: "Tượng
Nữ thần Tự do đang nhắc nhở cho chúng ta rằng
nước Mỹ là đất của những kẻ bị
truy nă, của di dân".
Phóng viên: "Tôi xin
nhắc nhở cho ông là Nữ thần Tự do quay mặt
về phía Đại Tây Dương".
Ư nói là bà quay lưng
về phía Á châu, phía Việt nam chúng ta.
Đây là một
giai thoại trong phiên họp báo của chúng tôi ngày 30-4-1975
(ngày 1 tháng 5 giờ Sài g̣n) tại khách sạn May Flower trên
đường Connecticut, Washington, D.C.
Mục đích của
cuộc họp nhằm kêu gọi Hoa kỳ cứu vớt
những con thuyền đang lênh đênh như lá tre ngoài bờ
biển Vũng Tàu.
Vô cùng xúc động,
chúng tôi không cầm được nước mắt. Câu mỉa
mai này đă ám ảnh chúng tôi từ giây phút đó, và chắc
sẽ không bao giờ phai nhoà đi được trong kư ức.
Sau 30 năm rồi
mà ta chưa t́m được câu trả lời thoả
đáng cho những thắc mắc trên. Biến cố lịch
sử năm 1975 đă để lại những ấn tượng
sâu đậm trung tâm trí của tất cả chúng ta, những
con người Việt nam, dù ở trong hay ngoài nước.
Mỗi người một hoàn cảnh, một cảm xúc,
một số phận. Một số quư vị đang cầm
cuốn sách này trong tay là những người thuộc thành
phần may mắn, không nhiều th́ ít, đă thoát được
bao nhiêu rủi ro. Thành phần khác đă chịu số phận
nghiệt ngă, giờ đây chỉ c̣n là những oan hồn
vất vưởng trong ḷng Thái B́nh Dương.
Và sau này, những
thế hệ mai sau, con cháu chúng ta sẽ tiếp tục thắc
mắc: tại sao cha mẹ, ông bà ḿnh lại bỏ quê cha.
đất tổ chạy sang Mỹ? Sang bao giờ? Trong
hoàn cảnh chính trị xă hội, kinh tế ra sao? Sang bằng
cách nào? May mắn? Lúc đầu như thế nào? Làm sao mà
sinh sống? Không bà con, không tiền, không nghề nghiệp
thích hợp, không cùng ngôn ngữ, làm thế nào mà nuôi được
con cháu ăn học thành tài như ngày nay?
Gần 20 năm trước,
năm 1986, tôi đă cùng Jerold Schecter, nguyên chủ bút tuần
báo TIME xuất bản cuốn "The Palace File" (Hồ
sơ mật Dinh Độc Lập - Hồ sơ mật
Dinh Độc Lập). Cuốn sách đề cập nhiều
tới Hiệp định Paris và ảnh hưởng bất
lợi của nó.
Đối tượng
chủ yếu là độc giả Mỹ, đặc biệt
là các nhà làm chính sách Hoa kỳ. Tổng trưởng ngoại
giao thời đó là ông George Schultz (trong chính quyền Reagan)
có viết cho chúng tôi là ông đă đưa cuốn này vào thư
viện nhỏ của Văn pḥng Tổng trưởng ngoại
giao ở Foggy Bottom. Các vị kế nghiệp ông sẽ
được đọc. Năm 1988, tờ New York Times
đă chọn cuốn "The Palace File" dể vào số
những sách mà các ứng cử viên Tổng thống cần
phải đọc, với tựa đề: "Vừa
đọc vừa vận động: Một lớp cấp
tốc cho chức vị Tổng thống" (Read and Run: A
Ram Course for the Presidency).
Khi Đồng minh
tháo chạy, được viết căn bản là cho
độc giả Việt nam.
Sách gồm năm
phần chính:
Phần I: bàn về
thời điểm và cách thức Mỹ tháo khỏi chiến
trường Việt nam;.
Phần II: nói đến
thân phận một tiểu quốc muốn cố gắng
vượt ra khỏi sự lệ thuộc;
Phần III: kể
lại những ǵ đă xảy ra tại Washington và Sài g̣n
sau khi quân đội Mỹ rút hết cho tới khi Miền
Nam sụp đổ
Phần IV: tŕnh bày
diễn tiến vào giờ hấp hối, việc một số
chính trị gia Mỹ đă không muốn cứu vớt người
Việt nam, đặc biệt là về cơ nguy Mỹ- Việt
suưt bắn nhau; phần này cũng thuật lại một cố
gắng cuối cùng của tác giả đặt trách nhiệm
tinh thần cho Hoa kỳ đ̣i hỏi phải giúp cho ít nhất
một triệu người ty nạn;
Phần V: nh́n lại
lịch sử để ghi nhận cho con cháu những khó
khăn, chống đối lớn lao cha ông chúng đă gặp
lúc ban đầu; phần này thâu tóm một nguyên nhân chính làm
sụp đổ Miền Nam, cũng như những bài học
rút ra từ cuộc chiến cho những thế hệ tương
lai của Việt nam và các Đồng minh của Hoa kỳ
hiện đại.
"Thay lời kết",
chúng tôi đề cập tới thiện tâm của nhân dân
Hoa kỳ, v́ sau cùng, cánh tay của đại đa số
đă rộng mở, tiếp nhận đoàn người tỵ
nạn trong một thời gian trên hai thập niên.
Sách này dựa vào một
phần cuốn Hồ sơ mật Dinh Độc Lập
và vào những nghiên cứu thêm của tác giả trong mười
năm qua. Trong cả hai cuốn, ngoài phần tài liệu,
chúng tôi đă bổ sung bằng những phỏng vấn với
các viên chức hữu trách cả hai phía Việt nam cộng
hoà và Hoa kỳ; đặc biệt là Tổng thống Nguyễn
văn Thiệu (tại London và Boston), Tổng thống
Gerald Ford, Ngoại trưởng Henry Kissinger, tướng
Alexander Hai, tướng John Murray, các Tổng trưởng
quốc pḥng liên hệ như James Schlesinger, Melvin Laird, Elliot
Richardson và các viên chức cao cấp Cơ quan T́nh báo CIA. Tổng
thống Richard Nixon khi c̣n sống đă từ chối cuộc
phỏng vấn v́ lư do sức khoẻ.
Điều mà cuốn
Khi Đồng minh tháo chạy muốn nhấn mạnh, nhất
là cho người Việt nam chúng ta rơ, là cung cách mà một số
chính khách Hoa kỳ, đặc biệt là ông Kissinger, và phần
nào, hai ông Nixon, Ford cũng như một số nghị
sĩ, dân biểu với con mắt thiển cận, đă
hành xử đối với nhân dân Miền Nam. Nó phản bội
nguyên tắc "minh bạch" (transparency) của thể
chế dân chủ, và đi ngược lại tinh thần
công b́nh của đại đa số nhân dân Hoa kỳ.
Trong bóng tối, trước hết hai ông Kissinger - Nixon
đă dùng thủ đoạn ép buộc Miền Nam đi
theo đường lối của ḿnh, mục đích chính
chỉ là để cho quân đội Mỹ rút đi, và tù
binh được thả về. Khi Chính phủ Miền
Nam phản kháng th́ đe doạ với "cái gậy"
(đảo chánh và cắt viện trợ), và hứa hẹn
với "củ cà rốt" (bảo đảm hoà b́nh
và viện trợ đầy đủ).
Hứa hẹn xong
th́ lờ đi, giấu cho thật kỹ. Quốc hội
không biết ǵ hết nên đă cắt giảm viện trợ
một cách quá nhanh và quá thẳng tay. Hoá ra, củ cà rốt
chỉ là một công cụ che giấu một kế hoạch
gọi là "khoảng thời gian coi cho được".
Kế hoạch này chỉ nhằm ban phát cho Miền Nam Việt
nam một thời gian ngắn ngủi, một khoảng
cách từ khi Mỹ rút hết cho tới khi sụp đổ.
Trước khi cuốn sách này lên khuôn, một nhân chứng
về những hành động hắc ám của ông Kissinger,
ông John Negroponte vừa được Tổng thống
George Bush trao phó chức vụ Điều khiển toàn bộ
t́nh báo Hoa kỳ. Ông là liên lạc viên giữa Kissinger và phái
đoàn Bắc Việt tại mật đàm Paris. Ngày 19
tháng Hai, 2005, tờ Boston Globe có bài viết về ông này và
b́nh luận: "tuy hồi đó Negroponte chỉ là nhân viên
cấp dưới, ông đă có tinh thần rất độc
lập và đă phản đối Kissinger về việc chấp
nhận để quân đội Bắc Việt đóng lại
Miền Nam, cho rằng như vậy là đưa Miền
Nam tới chỗ sụp đổ và hành động này có
nghĩa là đă bỏ rơi Đồng minh của Hoa kỳ.
Ông Richard Holbrooke (Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp
Quốc thời Tổng thống Clinton, và là bạn đồng
liêu với Negroponte lúc c̣n ở Hội đồng an ninh quốc
gia) có nói rằng chính v́ Negroponte đă chống lại
Kissinger mà bị hạ tầng công tác trong gần suốt
thập niên 1970".
Đối với
Miền Nam, ngay trước lúc sụp đổ hoàn toàn,
ông Kissinger c̣n thốt lên: "Sao chúng không chết phứt
cho rồi?". Sau đó, kế hoạch tháo chạy dược
thiết kế lúc đầu căn bản chỉ là để
di tản 6.000 người Mỹ và một số rất ít
người Việt. Cho dù nhiều người có thể
biện luận rằng việc giải kết khỏi Miền
Nam là điều có lợi cho nước Mỹ đi nữa,
nó cũng chỉ là ích lợi đoản kỳ, ở vào
thời điểm đó thôi. Trong trường kỳ, việc
bỏ rơi, nhất là cung cách tháo chạy đă làm tổn
hại rất nhiều tới "mức độ tin cậy"
(credibility) của chính sách ngoại giao cũng như uy tín
Hoa kỳ. Bạn th́ bớt tin tưởng, thù th́ hết
kính nể. Sau Việt nam, vào tháng 10, 1979, Iran đă táo tợn
đến độ bắt ngay cả nhân viên Toà đại
sứ Mỹ ở Teheran làm con tin hơn một năm. Rồi
từ đó, bao nhiêu vụ tấn công vào người và tài
sản của Mỹ. Liệu những hành động của
Saddam Hussein, Al-qaeda, biến cố gây nổ tàu Cole ở
Qatar, hay sự cố 11-9 có phải là những hậu quả
của việc coi thường Hoa kỳ hay không? Bởi vậy,
về lâu về dài, cái giá phải trả chắc chắn
đă không phải là thấp.
Tất cả những
sự việc ở hậu trường bang giao Việt -
Mỹ trong giai đoạn từ khi Mỹ tháo gỡ cho tới
lúc bỏ chạy được rất ít người biết
tới. Lư do là v́: về phía Mỹ, hồ sơ mật về
Việt nam trong giai đoạn này đă được giấu
kín trong văn pḥng Cố vấn Kissinger tại Toà Bạch Ốc;
và về phía Việt nam cộng hoà, nó được hoàn
toàn bảo mật trong văn pḥng riêng của Tổng thống
Thiệu tại Dinh Độc Lập.
Nhiều tác giả
nổi tiếng của Mỹ về vấn đề Việt
nam cũng đă phải b́nh luận về việc này. Trong
cuốn Uncertain Greatness, chính ông Roger Morris, nhân vật quan trọng
trong Hội đồng an ninh quốc gia (National Security
Council (NSC) do ông Kissinger điều khiển, đă phàn nàn:
"Dù rằng nó là một vấn đề được
viết và bàn luận nhiều nhất trong chính sách ngoại
giao, nhưng hồ sơ của Nixon - Kissinger về
Đông Dương trong nhiều phương diện đă
ít được hiểu biết nhất… Sự việc
mà dưới thời Johnson là một mạng rối rắm
giữa các động lực hành chính ở Sài g̣n và
Washington… bây giờ hầu như đă trở nên một sự
khống chế của chỉ hai bộ óc trong Toà Bạch Ốc
(Kissinger và Nixon).
Một tác giả nổi
tiếng khác, ông Leslie Gelb trong cuốn The Irony of Vietnam: The
System Worked, đă viết: "Câu chuyện về chính sách
Việt nam dưới thời Richard Nixon và Gerald Ford là một
chủ đề quan trọng…, nói về việc Hoa kỳ
đă rút ra chứ không phải đă nhảy vào Việt nam
như thế nào… (thế nhưng) những nguồn tài liệu
cần thiết để phân tích giai đoạn từ sau
1968 chắc sẽ không có được trong một thời
gian nữa".
Hy vọng rằng
cuốn Khi Đồng minh tháo chạy sẽ lấp được
phần nào cái lỗ hổng này của lịch sử. Âu
cũng do định mệnh mà người viết được
chứng kiến một số sự việc xảy ra tại
dinh Độc Lập cũng như tại Bộ Quốc
pḥng và Quốc hội Hoa kỳ trong những ngày tháng đầy
tuyệt vọng. Trước hết với tư cách là một
Phụ tá Tổng thống, rồi Tổng trưởng Kế
hoạch trong nội các. Là người điều hợp
viện trợ trên b́nh diện kinh tế toàn quốc người
viết làm việc trực tiếp với Tổng thống
Thiệu trong những ngày tháng cuối cùng. Trong cương
vị này, hồi 1974-1975 nhiều lúc chúng tôi đă phải
dẹp bỏ tự ái, lui tới Quốc hội Hoa kỳ
như một người đi cầu xin.
V́ đă quen với
lề lối làm việc ở Mỹ trong nhiều năm
trước khi trở về nước giúp tái thiết nền
kinh tế, chúng tôi đă luôn luôn mang theo cuốn sổ tay
nho nhỏ màu vàng mỗi khi đi họp để ghi chú diễn
tiến buổi họp. Kèm theo là những nhận xét hay cảm
nghĩ của riêng ḿnh vào ngay lúc đó, viết trong ngoặc.
Ở Sài g̣n, những cuộc họp gồm có các buổi
giữa cấp lănh đạo tối cao, các buổi họp
giữa Tổng thống Thiệu và giới chức Hoa kỳ.
Tại Washington là các buổi họp với một số
viên chức cao cấp tại bộ Ngoại giao, bộ Quốc
pḥng, và một số Nghị sĩ, Dân biểu tại Quốc
hội Hoa kỳ.
Ngoài ra, tôi có ghi lại
những cuộc đàm thoại, những chỉ thị
cũng như tâm tư, cảm xúc của Tổng thống
Thiệu trong nhiều bữa ăn một ḿnh với ông,
hay trong những lúc thư giăn nhấm nháp ly rượu vào
buổi chiều tối.
Một phần của
những ghi chép đó được dùng trong cuốn sách
này. Nhằm bổ sung phần ghi chép, chúng tôi đă cố
nghiên cứu thêm trong thời gian qua để t́m hiểu
sâu rộng hơn về những diễn tiến đưa
tới sự sụp đổ mau lẹ của Miền
Nam và cuộc di tản tiếp theo.
Trong phần nghiên cứu
và trích dẫn thêm, ngoài những tài liệu nội bộ,
chúng tôi c̣n dựa vào hồi kư đă được xuất
bản của các nhân vật chính yếu tham gia vào lịch
sử của thời gian này (như các Tổng thống
Nixon, Ford, ngoại trưởng Kissinger, Phụ tá Ehrlichman,
Haldeman, Phụ tá báo chí Nessen), và sách của một số
tác giả uy tín (như các ông Butler, Hersh và hai anh em ông Kalb).
Chúng tôi ghi nhận và cám ơn các tác giả và các nhà xuất
bản (xem phần "Sách tham khảo").
Về những tài
liệu nội bộ, quư nhất là tập hồ sơ tối
mật về bang giao Việt - Mỹ dưới thời
hai Tổng thống Richard Nixon và Gerald Ford. Đầu tháng
Ba, 1975, Tổng thống Thiệu có cho chúng tôi xem một vài
lá thư, rồi một tháng sau, ông đă trao phó toàn bộ
văn kiện. Thật là một may mắn mà hồ sơ
đó đă được cứu văn cho lịch sử.
Mang nó theo khi bước chân lên chiếc máy bay Pan Am đi
Washington ngày 15-4 trong công tác cuối cùng cho Việt nam cộng
hoà, chúng tôi hết sức lo âu. Lo là v́ về phía Mỹ, Bộ
Ngoại giao đang chối đi là không có cam kết ǵ bí mật
hết. Tài liệu này đă được giấu kín, kín
đến độ chính Tổng thống Ford cũng như
ở trong bóng tối. Măi tới sau khi Huế bị bỏ
ngỏ và Đà Nẵng đă di tản, ông mới được
đọc vài bức thư trong số những văn kiện
tối mật của Tổng thống Nixon gửi Tổng
thống Thiệu. Và việc ông Ford đọc được
là do chính chúng tôi khởi xướng.
Cái trớ trêu là vào
những ngày giờ cuối cùng, giữa Dinh Độc lập
và Toà Bạch Ốc đă chẳng c̣n có đường dây
nào để liên lạc, trao đổi?
Nguyên thuỷ, tôi chỉ
là một giáo sư kinh tế học, rồi làm Tổng trưởng
kế hoạch, có ngờ đâu lịch sử lại
đưa đẩy vào cái thế phải chạy loanh
quanh để đi t́m "người đưa thư"
(là tướng Fred Weyand) cho Tổng thống Việt nam cộng
hoà. Cái khó vào lúc đó là làm sao chuyển được thư
của một Tổng thống Mỹ này tới tay một
Tổng thống Mỹ khác mà không qua Bộ Ngoại giao?
Sau này, nghị sĩ Henry "Scoop" Jackson (Dân chủ, tiểu
bang Washington) đă phải phàn nàn rằng: "Thật là lố
bịch và nguy hiểm khi Quốc hội và nhân dân Hoa kỳ
phải nhờ vào quan chức ngoại quốc (ông Hưng)
mới biết được những văn kiện tối
quan trọng này" (xem Chương 17).
Rồi tới những
bức thư cầu cứu cuối cùng của Quốc hội
Việt nam gửi Quốc hội Hoa kỳ: chắc đă
bị "thất lạc" rồi? Cho tới nay, không
có một dấu vết ǵ là chúng đă đến tay Quốc
hội. Làm sao có thể hiểu được là guồng
máy ngoại giao của một đại cường quốc
như Hoa kỳ lại trở nên lạ lùng như vậy?
Khi đọc được
ba trong số những bức thư của Tổng thống
Nixon gửi Tổng thống Thiệu, Tổng thống Ford
đă xúc động, sau đó ông ra phi trường đón
tiếp lớp trẻ mồ côi Việt nam vừa được
chở tới San Francisco. Tay bồng một em bé, ông bước
xuống máy bay, có chiều âu yếm. Và từ giây phút này có
lẽ ông đă thay đổi thái độ về vấn
đề tỵ nạn. Ông c̣n xin thêm quân viện cho Việt
nam cộng hoà, dù biết rằng đă quá muộn. Trước
đấy, sau cuộc rút lui cam go của Quân đoàn II và cuộc
di tản kinh hoàng từ Đà Nẵng, ông Ford vẫn b́nh
chân như vại, đi Palm Springs đánh gôn. Năm 1985 khi
chúng tôi phỏng vấn và đưa ông Ford đọc lại
mấy bức thư của Tổng thống Nixon, ông vẫn
c̣n tỏ vẻ ngậm ngùi: "Không c̣n một nghi ngờ
nào hết, đây là những lời cam kết hết sức
quyết liệt" (Well, there is no doubt these were very
categoncal commitments). Tổng thống Ford nhận xét như vậy
là chính xác.Tuy nhiên, nghe như đăi bôi v́ kể cả sau khi
ông được biết như trên, ông vẫn để
cho Ngoại trưởng kiêm Cố vấn của ông che dấu
Quốc hội và nhân dân Hoa kỳ. Vào ngày cuối cùng, trong
một cuộc họp báo, chúng tôi quyết tâm phơi bầy
cho công luận những cam kết vô cùng quyết liệt ấy
với mục đích yêu cầu cho một triệu người
Việt được tỵ nạn. Cấp lănh đạo
hành pháp cũng như lập pháp Hoa kỳ đă rất ngạc
nhiên về những tiết lộ này. Sau đó, rơ ràng có sự
thay đổi thái độ về vấn đề chấp
nhận đoàn người tỵ nạn. Và chúng tôi đă
có dịp được đóng góp thêm cho việc sắp xếp
các trại cũng như việc xuất trại, t́m công
ăn việc làm cho đoàn người tỵ nạn đợt
đầu.
Ngoài những tài liệu
mật về bang giao Việt - Mỹ, tác giả đă
đàm đạo với Đại sứ Martin, sau khi ông về
hưu. Ông là Đại sứ Mỹ cuối cùng ở Miền
Nam và là người đă bị bắt buộc phải thi
hành mệnh lệnh tháo chạy. Bản thân chúng tôi đă gặp
ông nhiều lần để t́m hiểu những ǵ đă xảy
ra bên trong Toà đại sứ trước khi chiếc trực
thăng Lay Ace 09 mang lệnh Tổng thống đến bốc
ông đi. Ông cho biết một số những diễn tiến
quan trọng lúc con thuyền Miền Nam nghiêng ngửa sắp
ch́m đắm. Ông c̣n cung cấp một số tài liệu
quư giá cho lịch sử. Trong những tài liệu này, phải
kể tới bức thư Tổng thống Dương
Văn Minh yêu cầu Mỹ rút khỏi Việt nam. Ngoài ra,
c̣n một số mật điện trao đổi hết
sức quan trọng giữa ông và Kissinger vào lúc những ngày
giờ cuối.
Đại sứ
Martin cho hay là ông muốn chờ một thời điểm
thuận tiện để sẽ "nói lên lời cuối
cùng" về những mánh lới, những thủ đoạn
đâm sau lưng của một vài chính trị gia tại
Washington. Ông rất muốn b́nh luận thêm về một
nguy cơ thực sự có mà chính ông đă giúp tránh né được.
Đó là suưt nữa có đụng độ lớn giữa
mấy sư đoàn Thuỷ quân lục chiến Mỹ với
quân lực Việt nam cộng hoà vào giờ chót. Nó có thể
đưa tới chỗ đổ vỡ hoàn toàn. Và trong
t́nh huống ấy, sau hai mươi năm kề vai sát
cánh, Việt nam cộng hoà lại trở thành kẻ thù của
Hoa kỳ? Nếu như vậy th́ số phận của mỗi
người trong chúng ta đă ra sao?
Về phương
diện cá nhân, ông Martin c̣n muốn viết về chuyến
ra đi nhục nhă của chính bản thân ông. Ông cho rằng
việc này đă làm tiêu hao biết bao nhiêu uy tín của nước
Mỹ. Bộ Ngoại giao dường như không để
ư nhiều tới những khổ tâm của ông, lại c̣n
trừng phạt, cho ông ngồi chơi xơi nước tại
Bộ trước khi về hưu. Và ông đă về hưu
sớm hơn là đến kỳ hạn.
Theo chúng tôi được
biết, Tổng thống Thiệu cũng đă có ư định
viết hồi kư. Thế nhưng cả hai người
đều đă không đủ thời giờ để
viết. Cả hai đều đă đi về nơi chín
suối, mang theo bao nhiêu ngậm ngùi, chua xót. Một người
th́ ngậm ngùi, hổ thẹn cho tư cách của một
đại quốc, một người th́ ân hận, chua
xót cho thân phận của một tiểu quốc.
Nhân ngày đánh dấu
mười năm sụp đổ Miền Nam (30 tháng 4,
1985), tờ New York Times đăng câu phê phán cuối cùng của
Đại sứ Martin: "Rút cuộc, chúng ta chỉ lo
tháo chạy. Ư chí dân tộc của Hoa kỳ đă sụp
đổ" (In the end, we simply cut and ran. The American national
will have collapsed). Tôi xin mượn một phần câu ông nói
làm đầu đề cho cuốn sách này.
Tác giả hoàn toàn
không ở địa vị đủ cao cấp để
nói lên lời cuối, nhưng nhờ một cơ duyên của
lịch sử đă may mắn được gặp lại
cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhiều lần
ở London và Boston để nghe và ghi lại những lời
cuối cùng của ông về cuộc chiến. Ngoài ra, c̣n
được nghe những lời thổ lộ từ tâm
huyết của vị Đại sứ Mỹ cuối cùng
tại Miền Nam, Graham Martin, trước khi ông qua đời.
Ông c̣n căn dặn là chúng tôi nên viết lại những ǵ
được nghe và được chứng kiến để
đóng góp cho lịch sử.. Cuốn sách này không đề
cập tới toàn bộ những lư do đă dẫn tới
sự sụp đổ của Việt nam cộng hoà.
Dĩ nhiên là trước thất bại, ta phải tự
trách ḿnh trước: "tiên trách kư hậu trách nhân",
hay "mea culpa "(lỗi tại tôi). Về khía cạnh
chính trị nội bộ của Miền Nam chẳng hạn,
tác giả không đề cập tới những nguyên nhân
mà các tác giả khác đă phân tích rất nhiều: như sự
chia rẽ nội bộ, tư cách và khả năng cấp
lănh đạo, tham nhũng, độc tài; hay những thái
độ chống đối, thờ ơ, tránh né từ
phía một vài thành phần nhân dân. Cũng không b́nh luận
là lănh vực quân sự, cả về chiến lược
lẫn chiến thuật. Về những địa hạt
này, tuy chúng tôi có được nghe nhiều điều
đáng buồn về các cấp lănh đạo chính yếu,
nhưng không đủ khả năng, hiểu biết, và
kinh nghiệm để nhận xét cho thấu đáo. Về
phía Hoa kỳ, tác giả cũng không đề cập nhiều
tới những yếu tố khác như phong trào phản
chiến, vai tṛ báo chí Mỹ, hay chiến thuật quân sự,
những đề tài dă được phân tích khá rộng
răi.
Hy vọng rằng
cuốn Khi Đồng minh tháo chạy sẽ giúp độc
giả có thêm được những dữ kiện mới
và chính xác để t́m ra câu trả lời cho nhiều thắc
mắc, nhiều uẩn khúc c̣n đeo đẳng, và qua ḍng
thời gian, vẫn chưa được sáng tỏ.
Đây chỉ là một cố gắng thuật lại cho
trung thực những ǵ ḿnh đă mắt thấy tai nghe, và
những ǵ đă t́m hiểu dược để chia sẻ
với người đồng hương về một
chương lịch sử quan trọng của đất
nước, đồng thời đúc kết lại những
bài học cho các thế hệ mai sau. Ngoài ra, nó cũng có thể
cung cấp một số dữ kiện cho các nhà làm chính
sách về bang giao với Mỹ của các Đồng minh
khác. Nhờ đó, họ có thể hiểu rơ hơn về
thể chế dân chủ cũng như về cơ cấu
và khung cảnh chính trị tại Hoa kỳ, chứ đừng
nh́n vào Hoa kỳ với cặp kính cận riêng của ḿnh.
Chúng tôi đă chờ
một thời gian khá dài mới bắt đầu viết
cuốn sách này v́ ba lư do: thứ nhất, để hầu
hết người Việt nam chúng ta có thể nh́n lại
giai đoạn lịch sử cuối cùng của VNCH một
cách khách quan hơn, không bị quá nhiều tâm t́nh, hoàn cảnh
cá nhân chi phối; thứ hai, để chúng tôi có đầy
đủ thời giờ nghiên cứu, phỏng vấn, suy
gẫm cho thật sâu, thật kỹ; và thứ ba, để
cho chính tác giả bớt được cường độ
xúc động trước khi viết, giúp cho tác phẩm
được trung thực. Về điểm này, chúng tôi
đă dẫn chứng tất cả những sự việc,
hành động, lời nói bằng văn bản hoặc bằng
những ghi chú về nguồn gốc sự kiện
(footnotes).
Tuy nhiên, dù đă cố
gắng hết sức, chúng tôi vẫn không thể tránh khỏi
một số suy nghĩ hay ngôn từ có tính cách chủ quan.
Về nhược điểm này, cũng như những sơ
sót, lầm lẫn trong cuốn sách, tác giả tin vào sự
thông cảm của độc giả.
* *
*
Chúng tôi xin chân thành
cảm tạ tất cả những bạn bè xa gần
đă khích lệ và hỗ trợ tác giả trong việc sưu
tầm và soạn thảo cuốn sách này. Đặc biệt
là: Hứa Chấn Minh, Chủ tịch công ty Phụng hoàng,
người dă theo đuổi công việc của chúng tôi
trong nhiều năm, và đă xuất bản cuốn sách
này. Anh Chu Xuân Viên, người đă giúp nhuận sắc cuốn
HSMDDL, lại giúp sửa chữa thêm cuốn Khi Đồng
minh tháo chạy. Bạn Tạ Văn Tài đă tận tâm
đóng góp cho tôi nhiều ư kiến xây dựng, nhờ
đó cuốn sách được xúc tích hơn. Các anh Trần
Khánh Liễm, Thuần Trương, và Vũ Huy Hoàng đă chịu
khó đọc bản thảo, thêm ư kiến và giúp nhuận
sắc. Các bạn Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Văn
Liêm, Đỗ Ngọc Hiển, Vũ Chính Trực, Lê Ái sẵn
sàng tiếp tay, cho tôi những nhận xét, và gợi ư rất
hữu ích. Bạn Nguyễn Xuân Nghĩa đă dành th́ giờ
đọc bản thảo cuối cùng, giúp sửa chữa,
tŕnh bày thêm phần khởi sắc. Bạn Nguyễn Thiện
Cơ giúp sắp xếp về kỹ thuật, và phần
danh mục (index). Bác sĩ Phó Ngọc Văn, người
luôn thúc đảy tôi kiên tâm, và dù lúc c̣n nằm trên giường
bệnh, cũng vẫn gọi điện thoại dể
khích lệ, đóng góp thiều ư kiến. Các bạn Lê
Văn và Virginia Lê, Đăng Khánh và Hương Hoa cũng
như Vũ Văn Hoa, đă không ngơi cổ vơ, làm tôi
thêm hăng say trong việc sưu tầm và biên soạn.
Tôi xin thành thật
cám ơn Jenold L. Schecter, nguyên chủ bút ngoại giao của
tạp chí Time, cựu Phụ tá giám đốc báo chí Toà Bạch
Ốc, và Phát ngôn viên Hội đồng an ninh quốc gia,
đă cùng tôi viết cuốn The Palace File (1986), và đă giúp
đỡ khích lệ tôi viết cuốn sách này.
Sau cùng tôi không thể
không nhắc đến sự giúp biên soạn, sửa chữa,
hy sinh của nhà tôi Therese N. Hưng; và các anh, chị, em, con,
và cháu, thuộc đại gia đ́nh cụ ông cụ bà Cố
Chánh Nguyễn Xuân Phi, luôn luôn nâng đỡ tinh thần tôi
trong những giai đoạn thăng trầm của cuộc
đời.